Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Thiết giáp hạm-battleship (Phần 2)

Giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]







Bản vẽ sơ đồ chiếc HMSNelson, được đưa vào hoạt động năm 1927.



Trong nhiều năm, nước Đức đơn giản không có thiết giáp hạm. Thỏa thuận Đình chiến với Đức yêu cầu hầu hết Hạm đội Biển khơi Đức phải được tước vũ khí và bị chiếm giữ tại một cảng trung lập; nhưng do hầu như không thể tìm được một cảng trung lập phù hợp hay chịu chấp nhận, những con tàu này được Anh canh giữ tại Scapa Flow thuộc ScotlandHiệp ước Versailles chỉ định rằng những con tàu phải được chuyển cho người Anh; nhưng thay vì vậy, đa số chúng bị thủy thủ đoàn Đức tự đánh đắm vào ngày 21 tháng 6 năm 1919, trước khi hiệp ước hòa bình được ký kết. Hiệp ước cũng giới hạn Hải quân Đức, và hạn chế Đức trong việc chế tạo hay sở hữu mọi tàu chiến chủ lực.[42]

Trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến, thiết giáp hạm phải tuân thủ theo những hạn chế quốc tế nhằm ngăn ngừa một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém có thể xảy ra.[43]
Trong khi những người chiến thắng không bị giới hạn bởi Hiệp ước Versailles, hải quân của nhiều cường quốc trước đây bị tan tác sau chiến tranh. Đối mặt với viễn cảnh của một cuộc chạy đua vũ trang hải quân với Anh và Nhật Bản, và từ đó có thể đưa đến một cuộc chiến tranh tại Thái Bình Dương, Hoa Kỳ nhiệt tình vận động cho một sự thỏa thuận hạn chế trong Hiệp ước Hải quân Washington vào năm 1922. Hiệp ước này giới hạn số lượng và kích thước của thiết giáp hạm mà mỗi cường quốc có thể sở hữu, và yêu cầu Anh Quốc chấp nhận một sự ngang bằng với Hoa Kỳ cũng như từ bỏ sự liên minh với Nhật Bản.[44] Hiệp ước Washington được tiếp nối bởi một loạt các hiệp ước hải quân sau đó, bao gồm Hội nghị Hải quân Geneva thứ nhất (1927), Hiệp ước Hải quân London thứ nhất(1930), Hội nghị Hải quân Geneva thứ hai (1932), và cuối cùng là Hiệp ước Hải quân London thứ hai (1936), tất cả đều đặt ra các giới hạn cho các tàu chiến chủ lực. Các hiệp ước này chính thức mất hiệu lực vào ngày 1 tháng 9 năm 1939 lúc bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng sự phân loại các lớp tàu mà các bên thỏa thuận vẫn còn được áp dụng.[45] Những sự giới hạn của hiệp ước có nghĩa là có ít thiết giáp hạm mới được hạ thủy trong giai đoạn 19191939 so với giai đoạn 19051914. Các hiệp ước cũng ngăn cản sự phát triển bằng cách đặt ra giới hạn tối đa cho trọng lượng của các con tàu. Các thiết kế như là kế hoạch lớp N3 của Anh, lớp South Dakota thứ nhất của Mỹ và lớp Kiicủa Nhật Bản, tất cả đều tiếp tục theo xu hướng tàu lớn hơn với súng lớn hơn và vỏ giáp dày, không bao giờ bước ra khỏi bản vẽ. Những thiết kế được đưa ra hoạt động trong giai đoạn này (trong giới hạn của hiệp ước) được gọi là những thiết giáp hạm hiệp ước.[46]

Sự nổi lên của sức mạnh không quân[sửa | sửa mã nguồn]


Thử nghiệm ném bom đánh chìm thiết giáp hạm cũ của ĐứcSMS Ostfriesland (1909) tại Mỹ,tháng 9 năm 1921.
Ngay từ năm 1914, Đô đốc Anh Percy Scott đã tiên đoán rằng thiết giáp hạm sẽ nhanh chóng bị máy bay loại bỏ.[47] Vào cuối Thế Chiến I, máy bay đã sử dụng thành công ngư lôi như một loại vũ khí.[Ghi chú 4] Một cuộc tấn công được đề nghị nhắm vào hạm đội Đức đang buông neo vào năm 1918 sử dụng những chiếc máy bay ném bom-ngư lôi Sopwith Cuckoo xuất phát từ tàu sân bay từng được cân nhắc và bị hủy bỏ, nhưng cũng không lâu trước khi một kỹ thuật như vậy được áp dụng.
Trong những năm 1920, Tướng Billy Mitchell thuộc Quân đoàn Không quân Quân đội Hoa Kỳ tin tưởng rằng sức mạnh của không quân đã làm cho hải quân toàn thế giới trở nên lạc hậu, khẳng định trước Quốc Hội rằng "1.000 máy bay ném bom có thể được chế tạo và đưa vào hoạt động với cái giá của một thiết giáp hạm", và một phi đội những máy bay ném bom như vậy có thể đánh chìm một thiết giáp hạm, khiến cho việc sử dụng ngân quỹ của nhà nước hiệu quả hơn.[48] Những phát biểu như vậy đã làm tức giận Hải quân Mỹ, nhưng dù sao Mitchell vẫn được phép tiến hành một loạt các thử nghiệm ném bom cẩn thận cùng với các máy bay ném bom của Hải quân và Thủy quân Lục chiến. Năm 1921, ông đã ném bom và đánh chìm được nhiều tàu, bao gồm chiếc thiết giáp hạm cũ "không thể chìm" thời Đệ Nhất thế chiến Ostfriesland của Đức và thiết giáp hạm Mỹ tiền-dreadnought Alabama.[49]
Cho dù Mitchell yêu cầu những "điều kiện trong thời chiến", những con tàu bị đánh chìm đã lạc hậu, đứng yên, không được bảo vệ và không có những đội cứu hộ kiểm soát hư hỏng. Việc đánh chìm Ostfriesland được hoàn tất là do vi phạm một thỏa thuận cho phép các kỹ sư hải quân khảo sát ảnh hưởng gây hư hại của các vũ khí khác nhau: những phi công của Mitchell đã bất chấp các quy luật và đánh chìm con tàu trong vòng vài phút trong một cuộc tấn công phối hợp. Cuộc biểu diễn trở thành tiêu đề nổi bật trên báo chí, và Mitchell tuyên bố: "Không con tàu nổi nào có thể tồn tại nơi mà không lực có thể hoạt động từ các căn cứ trên đất liền có khả năng tấn công chúng". Trong khi còn cách xa mục đích đề ra, thử nghiệm của Mitchell thật đáng chú ý vì nó đặt những kẻ ủng hộ thiết giáp hạm ở vào thế đối nghịch với sự phát triển không lực của Hải quân.[1] Chuẩn Đô đốc William A. Moffett đã tận dụng các quan hệ công chúng chống lại Mitchell nhằm mở đường cho việc phát triển chương trình tàu sân bay còn non trẻ của Hải quân Mỹ.[50]

Tái vũ trang[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân Hoàng gia AnhHải quân Hoa Kỳ và Hải quân Đế quốc Nhật Bản đầu nâng cấp một cách rộng rãi và hiện đại hóa những thiết giáp hạm thời Đệ Nhất thế chiến của họ trong những năm 1930. Các tính năng mới bao gồm tăng chiều cao của tháp điều khiển và độ ổn định của máy đo tầm xa quang học (dành cho sự điều khiển tác xạ), vỏ giáp dày hơn (đặc biệt là chung quanh các tháp pháo) để bảo vệ chống lại đạn pháo bắn đến và bom ném từ trên không, cũng như bổ sung vũ khí phòng không. Một số tàu Anh được trang bị một khối cấu trúc thượng tầng lớn có tên lóng là "Lâu đài Hoàng hậu Anne ", như trên chiếc Queen Elizabeth và Warspite, vốn sẽ được sử dụng trên tháp chỉ huy mới của lớp thiết giáp hạm nhanh King George V. Các bầu bên ngoài được bổ sung nhằm cải thiện cả độ nổi chống lại sự gia tăng tải trọng lẫn việc bảo vệ dưới nước chống lại mìn và ngư lôi. Người Nhật tái cấu trúc tất cả các thiết giáp hạm cùng tàu chiến-tuần dương của họ với cấu trúc "tháp chùa" đặc trưng, cho dù chiếc Hiei có một tháp cầu tàu hiện đại hơn vốn sẽ ảnh hưởng đến thiết kế của lớp thiết giáp hạm mới Yamato. Bầu chống ngư lôi được trang bị, kể cả các bó ống thép để cải thiện sự bảo vệ dưới nước và bảo vệ ngang dọc theo mực nước. Người Mỹ thử nghiệm kiểu cột buồm dạng lồng và sau đó là dạng ba chân, mặc dù sau trận Trân Châu Cảng một vài chiếc bị hư hại nặng nề như West Virginia và California được tái cấu trúc với dáng vẽ tương tự như lớp Iowa đượng thời (được gọi là cột ăn-ten dạng tháp). Radar, vốn có hiệu quả ngoài tầm nhìn bằng mắt cũng như hiệu quả khi trời hoàn toàn tối đen hoặc khi thời tiết xấu, được giới thiệu để bổ sung cho hệ thống kiểm soát hỏa lực quang học.[51]
Ngay cả khi nguy cơ chiến tranh tái xuất hiện vào cuối những năm 1930, công việc chế táo thiết giáp hạm cũng không đạt được mức độ quan trọng như những năm trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất. "Kỳ nghỉ đóng tàu" do những hiệp ước hải quân gây ra có nghĩa là khả năng chế tạo của các xưởng đóng tàu tương đối giảm sút trên toàn thế giới, và vị trí chiến lược của thiết giáp hạm cũng đã thay đổi. Việc phát triển máy bay ném bom chiến lược khiến cho hải quân không còn là phương tiện duy nhất thể hiện sức mạnh ở nước ngoài, và việc phát triển các tàu sân bay làm cho các thiết giáp hạm có một đối thủ tranh giành các nguồn lực dành cho việc chế tạo các tàu chiến chủ lực.

Thiết giáp hạm Ý Vittorio Veneto (1940)
Tại ĐứcKế hoạch Z nhiều tham vọng nhằm tái vũ trang hải quân bị bác bỏ dành ưu tiên cho chiến lược chiến tranh tàu ngầm được bổ trợ bởi việc sử dụng các tàu chiến-tuần dương và lớp thiết giáp hạm Bismarck để cướp phá tàu buôn. Tại Anh, nhu cầu cấp thiết nhất là phòng không và hộ tống đoàn tàu vận tải nhằm đảm bảo an toàn cho cư dân khỏi các cuộc ném bom cũng như là sự đói kém; và kế hoạch đóng tàu tái vũ trang bao gồm năm chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp King George V. Chính trong khu vực Địa Trung Hải là nơi mà các thế lực hải quân vẫn tiếp tục gắn bó với chiến tranh thiết giáp hạm. Pháp dự định chế tạo sáu thiết giáp hạm thuộclớp Dunkerque và lớp Richelieu, và Ý với hai chiếc lớp Littorio; cả hai nước này đều không đóng chiếc tàu sân bay đáng kể nào. Người Mỹ dự định chi tiêu giới hạn cho tàu sân bay cho đến khi hoàn tất lớp South Dakotathứ hai; và mặc dù người Nhật đang dẫn đầu thế giới trong việc đóng tàu sân bay, họ vẫn bắt đầu việc chế tạo ba chiếc thiết giáp hạm khổng lồlớp Yamato (mặc dù chiếc thứ ba Shinano sau đó hoàn tất như một tàu sân bay) cùng dự định chiếc thứ tư mà cuối cùng bị hủy bỏ.[3]
Vào lúc bắt đầu cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, Hải quân Cộng hòa Tây Ban Nha chỉ bao gồm hai chiếc thiết giáp hạm dreadnought nhỏ, Españavà Jaime IEspaña (tên ban đầu Alfonso XIII), lúc đó thuộc lực lượng dự bị tại căn cứ hải quân Ferrol ở khu vực Tây Bắc, bị rơi vào tay lực lượng Quốc gia vào tháng 7 năm 1936. Thủy thủ đoàn trên chiếc Jaime I giết các sĩ quan chỉ huy, làm binh biến và gia nhập Hải quân Cộng Hòa. Do đó mỗi phe có một thiết giáp hạm; Tuy nhiên, nhìn chung Hải quân Cộng hòa thiếu hụt các sĩ quan có kinh nghiệm. Các thiết giáp hạm Tây Ban Nha chủ yếu tự giới hạn trong các hoạt động phong tỏa lẫn nhau, hộ tống các đoàn tàu vận tải và bắn phá bờ biển hơn là trực tiếp đối đầu với các đơn vị tàu nổi khác.[52] Vào tháng 4 năm 1937España trúng phải mìn do lực lượng bạn rải và bị chìm với tổn thất nhân mạng nhẹ; rồi đến tháng 5 năm 1937Jaime I bị hư hại do các cuộc không kích của phe Quốc gia và một sự cố mắc cạn. Con tàu bị buộc phải quay về cảng để sửa chữa, nhưng tại đây nó lại trúng thêm nhiều bom. Người ta quyết định kéo chiếc thiết giáp hạm đến một cảng an toàn hơn, nhưng đang khi trên đường đi con tàu chịu một vụ nổ bên trong khiến nó hoàn toàn loại khỏi hoạt động với 300 người thiệt mạng. Nhiều tàu chiến chủ lực của Ý và Đức đã tham gia cuộc phong tỏa không can thiệp. Vào ngày 29 tháng 5 năm 1937, hai máy bay phe Cộng hòa đã tìm cách ném bom chiếc thiết giáp hạm bỏ túi Đức Deutschland ngoài khơi Ibiza, gây hư hại nặng và tổn thất nhân mạng cao. Chiếc Admiral Scheer trả đủa hai ngày sau đó, bắn phá Almería gây ra sự phá hủy lớn, và hậu quả là sự kiện Deutschland đưa đến kết thúc việc Đức và Ý tham gia sự phong tỏa.[53]

Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]


Thiết giáp hạm Pennsylvaniađang dẫn trước thiết giáp hạmColorado và các tàu tuần dươngLouisvillePortland và Columbiatiến vào vịnh Lingayen tạiPhilippines, tháng 1 năm 1945
Thiết giáp hạm Đức Schleswig-Holstein, một chiếc tiền-dreadnough lạc hậu, đã bắn những phát súng đầu tiên của Chiến tranh Thế giới thứ hai khi nã pháo xuống trận địa của Ba Lan tại Westerplatte;[54] và cuộc đầu hàng cuối cùng của Đế quốc Nhật Bản diễn ra trên một thiết giáp hạm của Hải quân Hoa Kỳ, chiếc Missouri. Giữa hai sự kiện ấy, rõ ràng là tàu sân bay đã trở thành tàu chiến chủ yếu của hạm đội và vai trò của thiết giáp hạm giờ đây chỉ là hạng hai.
Thiết giáp hạm cũng đóng góp phần mình trong các trận chiến chính tại các chiến trường Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Địa Trung Hải. Tại Đại Tây Dương, Đức sử dụng các thiết giáp hạm của mình như những tàu săn tàu buôn độc lập. Tuy nhiên, sự đối đầu giữa các thiết giáp hạm ít có tầm quan trọng chiến lược. Trận Đại Tây Dương là cuộc đối đầu giữa tàu khu trục và tàu ngầm, còn kết quả của đa số các cuộc đối đầu hạm đội chủ yếu trong chiến tranh tại Thái Bình Dương đều do tàu sân bay quyết định.[cần dẫn nguồn]
Trong năm đầu tiên của chiến tranh, các tàu chiến bọc thép đã thách thức những lời tiên đoán rằng máy bay sẽ làm bá chủ các cuộc hải chiến. Các tàu chiến Đức Scharnhorst và Gneisenau đã bất ngờ đánh chặn và đánh chìm tàu sân bay Glorious ngoài khơi bờ biển phía Tây Na Uy vào tháng 6 năm 1940.[55] Trận chiến này đánh dấu lần cuối cùng một tàu sân bay hạm đội bị đánh chìm bởi hải pháo của lực lượng tàu nổi. Trong cuộc tấn công Mers-el-Kébir, thiết giáp hạm Anh đã khai hỏa vào các thiết giáp hạm Pháp đang trong cảng Algier bằng chính các khẩu pháo hạng nặng của chúng, rồi sau đó truy đuổi các tàu Pháp đang tháo chạy bằng máy bay từ các tàu sân bay.
Những năm tiếp theo của cuộc chiến chứng kiến nhiều thể hiện cho sự trưởng thành của tàu sân bay như một vũ khí hải quân chiến lược và tiềm năng chống lại các thiết giáp hạm. Người Anh tổ chức không kích vào căn cứ hải quân Ý tại Taranto đánh chìm một thiết giáp hạm Ý và làm hư hại hai chiếc khác. Cũng những chiếc máy bay ném ngư lôi Swordfish đó đã đóng vai trò quyết định trong việc đánh chìm chiếc thiết giáp hạm săn tàu buôn Đức Bismarck.

Thiết giáp hạm Yamato (1940) của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, như được thấy vào năm 1941, cùng con tàu chị em Musashi(1940) là những thiết giáp hạm lớn nhất trong lịch sử.
Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tung ra cuộc tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng. Chỉ trong một thời gian ngắn năm trong số tám thiết giáp hạm Mỹ hiện diện tại đây bị đánh đắm và số còn lại bị hư hại. Các tàu sân bay Mỹ đều ra khơi vào lúc đó và không bị phát hiện. Đến lượt chúng đảm trách gánh nặng của chiến tranh và sau đó làm đổi chiều chiến cuộc tại mặt trận Thái Bình Dương. Việc đánh chìm thiết giáp hạm Anh HMS Prince of Wales cùng chiếc tàu chiến-tuần dương HMS Repulse hộ tống cho nó đã thể hiện sự mong manh của thiết giáp hạm ngoài biển khơi đối với các cuộc không kích mà không có được sự bảo vệ trên không thích đáng, cuối cùng cũng làm lắng xuống cuộc tranh luận mà Mitchell khởi xướng từ năm 1921. Cả hai chiếc tàu chiến đang trên đường đối đầu cùng lực lượng đổ bộ Nhật Bản đang tấn công Mã Lai khi chúng bị các máy bay ném bom và máy bay ném ngư lôi xuất phát từ đất liền đánh chặn vào ngày 10 tháng 12 năm 1941.[56]
Trong những trận chiến lớn vào giai đoạn đầu tại Thái Bình Dương, như tại biển Coral và Midway, thiết giáp hạm thường vắng mặt hay bị che lấp khi các tàu sân bay tung máy bay ra hết đợt này đến đợt khác ở khoảng cách hàng trăm dặm. Trong những trận chiến sau đó tại Thái Bình Dương, thiết giáp hạm chủ yếu thực hiện bắn phá bờ biển hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ và cung cấp việc bảo vệ phòng không như tàu hộ tống cho tàu sân bay. Ngay cả những chiếc thiết giáp hạm lớn nhất từng được chế tạo, lớp Yamato của Nhật, vốn mang một dàn pháo chính gồm chín khẩu 457 mm (18 inch) và được thiết kế như một vũ khí chiến lược chính yếu, chưa bao giờ có cơ hội để chứng tỏ tiềm năng của chúng trong một trận hải chiến quyết định như được mô tả trong kế hoạch của Nhật trước chiến tranh.[57]
Cuộc đối đầu cuối cùng giữa các thiết giáp hạm trong lịch sử là trận chiến eo biển Surigao[cần dẫn nguồn], vào ngày 25 tháng 10 năm 1944, trong đó chiến thuật "cắt ngang chữ T" cổ điển được sử dụng lần cuối cùng, cho phép lực lượng thiết giáp hạm vượt trội của Mỹ đánh tan nát nhóm thiết giáp hạm Nhật yếu thế hơn bằng hỏa lực tập trung do radar hướng dẫn. Tuy nhiên, phải nói rằng các đợt tấn công ngư lôi trước đó của các tàu khu trục Mỹ đã làm suy yếu đáng kể lực lượng Nhật, và số còn lại thiếu khả năng hướng dẫn hỏa lực bằng radar. Tất cả các thiết giáp hạm Mỹ có mặt trong trận này, ngoại trừ một chiếc, đều từng bị đánh chìm hay hư hại nặng trong trận Trân Châu Cảng và sau đó được cho nổi lên và sửa chữa. Mississippi đã bắn loạt pháo cuối cùng trong trận này, cũng là loạt pháo hạng nặng cuối cùng trong lịch sử nhắm vào một thiết giáp hạm khác, kết thúc một kỷ nguyên thiết giáp hạm trong lịch sử hải chiến trên mặt biển.

Chiến tranh Lạnh[sửa | sửa mã nguồn]


Vụ nổ thử nghiệm bom nguyên tử Baker trong chiến dịch Crossroads.
Sau Thế Chiến II, hải quân nhiều nước giữ lại những chiếc thiết giáp hạm hiện có, nhưng chúng không còn là những tài sản quân sự chiến lược vượt trội. Thực vậy, người ta nhanh chóng nhận ra nó không còn có giá trị so với chi phí đáng kể cần bỏ ra để chế tạo và bảo trì, và chỉ có một chiếc thiết giáp hạm mới được đưa ra hoạt động sau chiến tranh, HMS Vanguard. Trong chiến tranh có thể thấy rõ những cuộc đối đầu giữa các thiết giáp hạm như trận chiến vịnh Leyte hay việc đánh chìm chiếc HMS Hood chỉ là những ngoại lệ chứ không phải là quy luật, và với vai trò của máy bay ngày càng lớn cũng như tầm xa hoạt động của chúng càng tăng, vũ khí pháo hạng nặng ngày càng không thích hợp. Vỏ giáp của chiếc thiết giáp hạm cũng không phù hợp khi đối mặt với khả năng một cuộc tấn công hạt nhân[cần dẫn nguồn] như những tên lửa chiến thuật có tầm hoạt động lên đến 100 km (62 dặm) hay lớn hơn được trang bị cho lớp tàu khu trục Kildin và lớp tàu ngầm Whiskey. Vào cuối những năm 1950, các lớp tàu chiến nhỏ, mà trước đây không có khả năng đối đầu đáng kể, đều có khả năng loại trừ thiết giáp hạm nếu muốn.
Những chiếc thiết giáp hạm còn lại gặp gỡ những số phận khác nhau. Arkansas và Nagato bị đánh chìm trong cuộc thử nghiệm vũ khí nguyên tử tại đảo san hô Bikini vào năm 1946. Cả hai chiếc thiết giáp hạm đều chứng tỏ khả năng đề kháng với các vụ nổ trên không nhưng đều tỏ ra mong manh trước các vụ nổ nguyên tử dưới nước.[58] Thiết giáp hạm Ý Giulio Cesare bị Liên Xô sở hữu như khoản bồi thường chiến tranh và được đổi tên thành Novorossiysk; nó trúng phải một quả mìn Đức tại Hắc Hải và bị chìm ngày 29 tháng 10 năm 1955. Hai chiếc thuộc lớpAndrea Doria được tháo dỡ vào năm 1956.[59] Thiết giáp hạm Pháp Lorraine được tháo dỡ vào năm 1954Richelieu vào năm 1968[60] và Jean Bart vào năm 1970.[61]
Bốn chiếc lớp King George V của Anh còn sống sót bị tháo dỡ vào năm 1957,[62] và Vanguard nối gót vào năm 1960.[63] Những chiếc thiết giáp hạm Anh còn lại bị bán hay tháo dỡ cho đến năm 1949.[64] Chiếc Petropavlovsk của Liên Xô bị tháo dỡ vào năm 1953Sevastopol vào năm1957 và Oktyabrskaya Revolutsiya (có nghĩa: Cách mạng Tháng mười, được quay trở lại tên gốc Gangut từ năm 1942)[65] vào năm 1956-1957.[65] Chiếc Minas Gerais của Brazil được tháo dỡ tại Genoa vào năm 1953,[66] trong khi chiếc tàu chị em São Paulo bị đánh chìm trong một trận bão tại Đại Tây Dương trên đường đi đến xưởng tàu tháo dỡ tại Italy vào năm 1951.[66]
Argentina giữ lại hai chiếc thuộc lớp Rivadavia cho đến năm 1956 và Chile giữ chiếc Almirante Latorre (nguyên là chiếc HMS Canada) cho đến năm 1959.[67] Tàu chiến-tuần dương Thổ Nhĩ Kỳ Yavuz (nguyên là chiếc SMS Goeben hạ thủy năm 1911) bị tháo dỡ vào năm 1976 sau khi một đề nghị bán nó trở lại Đức bị từ chối. Thụy Điển có nhiều thiết giáp hạm phòng duyên cỡ nhỏ, một trong số chúng là Gustav V sống sót cho đến năm 1970.[68] Liên Xô tháo dỡ bốn tàu tuần dương lớn chưa hoàn tất vào cuối những năm 1950, trong khi kế hoạch chế tạo một số tàu chiến-tuần dương mới thuộc lớp Stalingrad bị hủy bỏ sau cái chết của Joseph Stalin vào năm 1953.[69] Ba thiết giáp hạm cũ của ĐứcSchleswig-HolsteinSchlesien và Hessen đều có sự kết thúc giống nhau. Hessen bị Xô Viết chiếm và đặt tên là Tsel; nó bị tháo dỡ vào năm1960Schleswig-Holstein được đổi tên thành Borodino và được sử dụng như một tàu mục tiêu cho đến năm 1960Schlesien cũng được dùng làm tàu mục tiêu trước khi bị tháo dỡ từ năm 1952 đến năm 1957.[70]

Thiết giáp hạm Missouriphóng một tên lửa BGM-109 Tomahawk trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc năm 1991.
Lớp thiết giáp hạm Iowa có được một cuộc sống mới trong Hải quân Hoa Kỳ như những tàu hỗ trợ hỏa lực. Hỏa lực điều khiển bằng radar và máy tính có thể ngắm mục tiêu với độ chính xác cao. Hoa Kỳ đã đưa ra hoạt động cả bốn chiếc thiết giáp hạm lớp Iowa trong Chiến tranh Triều Tiên và chiếc New Jersey trong chiến tranh Việt Nam. Chúng được sử dụng chủ yếu trong việc bắn phá bờ biển, như New Jersey đã bắn gần 6.000 quả đạn pháo 406 mm (16 inch) và hơn 14.000 pháo 127 mm (5 inch) vào các mục tiêu trên bờ biển Việt Nam,[71]gấp bảy lần so với lượng pháo nó từng sử dụng trong Đệ Nhị thế chiến.[72]
Như một phần trong nỗ lực của Bộ trưởng hải quân John F. Lehman nhằm xây dựng một Hải quân 600 tàu chiến vào những năm 1980, và để đáp trả việc Liên Xô đưa vào hoạt động tàu tuần dương Kirov, Hoa Kỳ cho tái hoạt động cả bốn chiếc lớp Iowa. Trong nhiều dịp, những chiếc thiết giáp hạm là tàu hỗ trợ cho các đội tàu sân bay chiến đấu hoặc dẫn đầu đội thiết giáp hạm chiến đấu của chính nó. Chúng được hiện đại hóa để mang tên lửa BGM-109 Tomahawk, và New Jersey đã tham gia bắn phá Liban vào năm 1983 và 1984, trong khi Missouri và Wisconsin bắn các quả đạn pháo 406 mm (16 inch) và tên lửa xuống các mục tiêu trên bờ trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc vào năm 1991Wisconsin được sử dụng như tàu chỉ huy các cuộc tấn công bằng tên lửa TLAM tại vùng vịnh Ba Tư, chỉ đạo các loạt phóng đánh dấu việc mở màn của Chiến dịch Bão táp Sa mạc, và đã bắn tổng cộng 24 tên lửa TLAM trong hai ngày đầu tiên của chiến dịch. Mối đe dọa chính đối với các thiết giáp hạm chính là những tên lửa đất-đối-đất Iraq bố trí trên đất liền; Missouri là mục tiêu của hai quả tên lửa Silkworm Iraq, khi một quả bị trượt và quả kia bị tàu khu trục Anh HMS Gloucester đánh chặn.[73]
Cả bốn chiếc Iowa đều được cho ngừng hoạt động động vào đầu những năm 1990, khiến cho chúng là những thiết giáp hạm cuối cùng hoạt động. Cho đến hết năm tài chính 2006, USS Iowa và USS Wisconsin vẫn được duy trì theo một tiêu chuẩn sao cho có thể nhanh chóng đưa chúng trở lại phục vụ như những tàu hỗ trợ hỏa lực, trong khi chờ đợi việc phát triển một tàu hỗ trợ hỏa lực vượt trội hơn.[74] Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tin rằng hỏa lực pháo và tên lửa trong các chương trình tàu nổi hỗ trợ hỏa lực hiện có không thể cung cấp hỗ trợ hỏa lực đầy đủ cho các cuộc tấn công đổ bộ hay những hoạt động trên bờ.[75][76]

Giai đoạn hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]


Thiết giáp hạm Texas (1912) của Hoa Kỳ là kiểu mẫu thiết giáp hạm giai đoạn Dreadnought duy nhất được bảo tồn.
Cùng với việc cho ngừng hoạt động hai thiết giáp hạm cuối cùng của lớp Iowa, không còn chiếc thiết giáp hạm nào được giữ lại hoạt động (kể cả trừ bị) cho bất kỳ hải quân nước nào. Một số chiếc được bảo tồn như nhữngtàu bảo tàng nổi hoặc trong ụ tàu. Hoa Kỳ có một số lượng lớn thiết giáp hạm được trưng bày: Massachusetts,North CarolinaAlabamaNew JerseyWisconsinMissouri và TexasMissouri và New Jersey hiện là những bảo tàng tại Trân Châu Cảng và CamdenNew Jersey, tương ứng. Wisconsin là tàu bảo tàng tại Norfolk, Virginia, và vừa mới được rút khỏi Đăng bạ Hải quân; tuy nhiên, trong khi chờ đợi các khoản quyên góp ngân quỹ dành cho việc bảo tồn, công chúng chỉ được viếng thăm sàn tàu, trong khi phần còn lại của con tàu được đóng kín để bảo quản chống ẩm. Texas là thiết giáp hạm đầu tiên trở thành một bảo tàng, hiện đang được trưng bày tại San Jacinto gần Houston; trong khi North Carolina được trưng bày tại WilmingtonBắc Carolina. Chiếc thiết giáp hạm thực sự duy nhất được trưng bày bên ngoài nước Mỹ là chiếc tiền-dreadnought Mikasacủa Nhật Bản.

Chiến lược và học thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết giáp hạm là sự biểu hiện của sức mạnh hải quân. Đối với Alfred Thayer Mahan và những người theo học thuết của ông, một lực lượng hải quân mạnh là cần thiết cho sự thành công của một quốc gia, và việc kiểm soát vùng biển cũng cần thiết cho sự triển khai lực lượng trên bộ và ở nước ngoài. Học thuyết của Mahan cho rằng vai trò của thiết giáp hạm là quét sạch đối phương khỏi mặt biển.[77] Trong khi các nhiệm vụ hộ tống, phong tỏa hay cướp tàu buôn có thể do các tàu tuần dương hay tàu nhỏ hơn đảm trách, sự hiện diện của thiết giáp hạm là một mối đe dọa tiềm tàng cho mọi đoàn tàu vận tải được hộ tống bởi bất kỳ tàu chiến nào khác hơn là tàu chiến chủ lực; điều này được biết đến như là khái niệm "Hạm đội hiện hữu". Mahan còn tiếp tục triển khai tư tưởng của ông khi nói rằng chiến thắng chỉ có thể đạt đến qua sự đối đầu giữa các thiết giáp hạm,[78] điều sẽ được hiểu đến như là học thuyết "trận chiến quyết định" của Hải quân Đế quốc Nhật Bản và một số nước khác, trong khi lý thuyết về trận chiến trên đường (en:guerre de course) được phát triển bởi trường phái Jeune École không thể nào thành công.
Ý tưởng của Mahan đã có ảnh hưởng lớn đến giới chính trị và hải quân trong suốt thời đại của thiết giáp hạm,[1][79] tìm kiếm một hạm đội lớn bao gồm những thiết giáp hạm mạnh nhất có thể. Công trình của Mahan được phát triển vào cuối những năm 1880, và cho đến cuối những năm 1890 nó đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ khắp thế giới,[1] mà cuối cùng được hải quân nhiều nước, mà đáng kể nhất là Anh, Mỹ, Đức và Nhật áp dụng. Sức mạnh của quan điểm Mahan ảnh hưởng quan trọng đến cuộc chạy đua vũ trang đóng thiết giáp hạm cũng như sự thỏa thuận giữa các cường quốc trong việc hạn chế số lượng thiết giáp hạm trong những năm giữa hai cuộc thế chiến.
Một khái niệm có liên quan là "Hạm đội Hiện hữu": ý tưởng về một hạm đội các thiết giáp hạm chỉ đơn giản bằng sự có mặt đã có thể giữ chân các nguồn lực đối phương lớn lao. Điều này đến lượt nó được tin là sẽ có thể đánh đổ cán cân lực lượng trong một cuộc xung đột ngay cả khi không có một trận chiến quyết định. Nó thậm chí gợi ý cho hải quân các nước nhỏ rằng một hạm đội thiết giáp hạm có thể có một ảnh hưởng chiến lược quan trọng.[80]

Chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi vai trò của thiết giáp hạm trong cả hai cuộc thế chiến đều phản ảnh học thuyết của Mahan, chi tiết của việc bố trí thiết giáp hạm phức tạp hơn nhiều. Không giống như tàu chiến tuyến, thiết giáp hạm vào cuối Thế kỷ 19 và đầu Thế kỷ 20 mong manh đáng kể đối với ngư lôi và mìn, những vũ khí có thể được sử dụng bởi những tàu chiến tương đối nhỏ và không đắt tiền. Trường phái Jeune École trong những năm1870 và 1880 đề nghị bố trí tàu phóng lôi theo cùng với thiết giáp hạm; những con tàu này sẽ nấp phía sau các thiết giáp hạm cho đến khi khói đạn pháo che khuất tầm nhìn đủ cho chúng có thể phóng ra và bắn các quả ngư lôi.[1] Trong khi khái niệm này bị sự phát triển của thuốc phóng không khói làm hỏng đi, mối đe dọa từ những tàu phóng lôi có khả năng hơn (sau đó bao gồm cả tàu ngầm) vẫn còn đó. Vào những năm 1890, Hải quân Hoàng gia đã phát triển những tàu khu trục đầu tiên, những tàu chiến nhỏ được thiết kế để ngăn chặn và đánh đuổi mọi tàu phóng lôi đến tấn công. Trong Thế chiến thứ nhất và sau đó, thiết giáp hạm hiếm khi được bố trí mà không có một hàng rào tàu khu trục bảo vệ.
Học thuyết về thiết giáp hạm nhấn mạnh đến sự tập trung lực lượng. Để lực lượng được tập trung này có thể giáng sức mạnh xuống một đối thủ bất hạnh (hay tránh đối đầu với một hạm đội đối phương mạnh hơn), hạm đội thiết giáp hạm cần một số phương tiện để phát hiện tàu đối phương bên kia tầm nhìn đường chân trời. Điều này được đáp ứng bởi các lực lượng tuần tiễu; ở những mức độ khác nhau tàu chiến-tuần dươngtàu tuần dương, tàu khu trục, khí cầu, tàu ngầm và máy bay đều được sử dụng. Cùng với việc phát triển vô tuyến, các bộ định hướng và phân tích lưu thông hàng hải cũng có thể cung cấp thông tin hữu ích, do đó khi nói rộng ra, thậm chí các trạm phát trên bờ có thể tham gia các đội thiết giáp hạm chiến đấu.[81] Nên trong hầu hết thời gian trong lịch sử hiện diện, hoạt động của thiết giáp hạm được bao bọc bởi những hải đội tàu khu trục và tàu tuần dương. Chiến dịch Bắc Hải trong Đệ Nhất thế chiến đã từng minh họa, cho dù có sự hỗ trợ này, mối đe dọa của mìn và các cuộc tấn công bằng ngư lôi, cộng với thất bại không tích hợp hay đánh giá đúng tiềm năng của các kỹ thuật mới,[82] đã hạn chế nghiệm trọng đến hoạt động của Hạm đội Grand Hải quân Hoàng gia, hạm đội thiết giáp hạm lớn nhất vào thời đó.

Chiến lược và ảnh hưởng ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, thiết giáp hạm là tàu chiến chủ lực của các quốc gia có tiềm năng phát triển hải quân. Sự hiện diện của thiết giáp hạm có một ảnh hưởng tâm lý và ngoại giao to lớn đến nỗi nhiều nước lớn đã có hẳn một chính sách ngoại giao dựa vào thiết giáp hạm: Chính sách ngoại giao pháo hạm. Giống như việc sở hữu vũ khí nguyên tử ngày nay, việc sở hữu thiết giáp hạm nâng cao sự thể hiện sức mạnh của quốc gia trong các cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai.[1]
Ngay cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, ảnh hưởng tâm lý của một thiết giáp hạm vẫn còn rất đáng kể. Năm 1946, USS Missouri được tách ra để đưa di hài của Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ về nước, và sự hiện diện của nó tại vùng biển Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp đã ngăn chặn một đòn tấn công của Liên Xô có thể nhắm vào vùng Balkan.[83] Vào tháng 9 năm 1983, khi lực lượng vũ trang người Druze tại vùng núi Shouf của Liban nổ súng vào lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ gìn giữ hòa bình, sự có mặt của USS New Jersey đã làm im tiếng súng; và hỏa lực của New Jersey sau đó đã giết chết những người lãnh đạo của lực lượng vũ trang này.[84]
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vai trò chủ lực của thiết giáp hạm đã dần dần nhường chỗ cho các tàu sân bay. Đến giữa những năm1970, một số tàu chiến hạng nặng thế hệ mới đã giảm bớt số lượng hải pháo và thay vào đó là các giàn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung cùng các tên lửa hành trình. Đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, hầu hết các chiến hạm chỉ được trang bị tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình thay cho hải pháo. Một số chiếc đã được trang bị hệ thống "tàng hình" đối phó lại radar và máy dò thủy âm sonar của đối phương.

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết giáp hạm là tàu chiến lớn và phức tạp nhất, và do đó là tàu chiến đắt tiền nhất vào thời của nó; kết quả là giá trị của việc đầu tư vào thiết giáp hạm luôn luôn bị tranh cãi. Như nhà hoạt động chính trị Pháp Etienne Lamy từng viết vào năm 1879: "Việc đóng thiết giáp hạm quá tốn kém, hiệu quả của chúng lại không chắn chắn và chỉ trong một thời gian ngắn, nên việc tổ chức một hạm đội bọc thép xem ra chỉ mang lại thất bại cho sự kiên nhẫn của một dân tộc".[85] Trong những năm 1870 và 1880Jeune École đã tìm kiếm những giải pháp thay thế cho chi phí lớn lao và công dụng bị tranh luận của một hạm đội thiết giáp hạm thông thường. Họ đề nghị cái mà ngày nay được gọi là chiến lược từ bỏ mặt biển, dựa trên các tàu tuần dương tốc độ cao có tầm hoạt động xa để đánh phá tàu buôn và các hải đội tàu phóng lôi để tấn công tàu chiến đối phương muốn mưu toan phong tỏa các cảng Pháp. Những tư tưởng của Jeune Ecole đều đi trước thời đại của họ; mãi đến thế kỷ 20 mới có được những phương tiện như mìn, ngư lôi, tàu ngầm và máy bay có hiệu quả cho phép những ý tưởng tương tự có thể được áp dụng.[86]
Quyết định của các cường quốc như Đế quốc Đức cho đóng một hạm đội thiết giáp hạm để đối đầu với những đối thủ mạnh hơn từng bị các sử gia chỉ trích, khi họ nhấn mạnh đến việc đầu tư vô ích vào hạm đội thiết giáp hạm vốn không có cơ hội bắt kịp đối thủ trong một trận chiến thực sự.[1] Căn cứ vào quan điểm này, những dự định của hải quân một nước yếu hơn muốn cạnh tranh trực tiếp với một nước mạnh hơn trong việc chế tạo thiết giáp hạm đơn thuần chỉ làm lãng phí nguồn lực vốn có thể được đầu tư tốt hơn cho việc tấn công vào những điểm yếu của đối phương. Như trong trường hợp của Đức, việc Anh phải phụ thuộc rất lớn vào việc nhập khẩu lương thực và nguyên liệu thô có thể là một điểm yếu khá nghiêm trọng, và Đức có thể chấp nhận những hệ lụy chính trị để tiến hành một cuộc chiến tranh tàu ngầm không hạn chếnhắm vào các tàu buôn thương mại. Mặc dù cuộc tấn công của U-boat trong những năm 19171918 cuối cùng thất bại, nó cũng thành công trong việc gây ra những tổn thất vật chất to lớn, và buộc Đồng Minh phải chuyển hướng một phần lớn nguồn lực vào cuộc chiến tranh chống tàu ngầm. Thành công này, cho dù cuối cùng không phải là quyết định, dù sao vẫn tương phản rõ rệt so với sự bất lực của hạm đội thiết giáp hạm Đức trong việc thách thức sự thống trị của hạm đội Anh mạnh hơn nhiều.

Danh sách thiết giáp hạm

Tên thiết giáp hạmNăm sử dụngQuốc giaLớp thiết giáp hạm
Africa1904AnhLớp King Edward VII
Agamemnon (1879)Agamemnon (1879)AnhLớp Ajax
Aki1905NhậtLớp Satsuma
Alabama (BB-8)1900Hoa kỳLớp Illinois
Alabama (BB-60)1942Hoa kỳLớp South Dakota
Vanguard (23)1946AnhLớp Lion
Missouri (BB-63)1944Hoa kỳLớp Iowa
Iowa (BB-61)1943Hoa kỳLớp Iowa
Bismarck1940ĐứcLớp Bismarck
Duke of York1940AnhLớp King George V
Musashi1940NhậtLớp Yamato
Yamato1940NhậtLớp Yamato
King George V (41)1939AnhLớp King George V

0 nhận xét:

Đăng nhận xét