Thảm họa hạt nhân Chernobyl

Khung cảnh hoang tàn ở Pripyat sau thảm họa hạt nhân

Thảm họa hạt nhân Chernobyl

Khung cảnh hoang tàn ở Pripyat sau thảm họa hạt nhân

Thảm họa hạt nhân Chernobyl

Khung cảnh hoang tàn ở Pripyat sau thảm họa hạt nhân

Thảm họa hạt nhân Chernobyl

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Anil Singh - BloggerTemplatez.com.

Thảm họa hạt nhân Chernobyl

Một thành phố nhỏ với gần 50.000 dân bị bỏ hoang sau thảm họa Chernobyl và ở trong cảnh đổ nát ngổn ngang suốt hơn một phần tư thế kỷ qua.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Bên trong "cỗ quan tài bê tông" ở Chernobyl

Suốt nhiều năm qua các kỹ sư Ukraina vẫn cần mẫn vào bên trong cỗ "quan tài bê tông" bao phủ lò phản ứng bị nổ của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl để kiểm tra kết cấu và nồng độ phóng xạ.
Cảnh tượng bên trong nhà máy điện hạt nhân Chernobyl tại Ukraina. Ảnh:
Cảnh tượng nhà máy điện hạt nhân Chernobyl tại Ukraina. Ảnh:blogspot.com.
Ngày 26/4/1986, lò phản ứng số 4 của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl nổ tung, gây nên thảm họa nguyên tử tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Sau đó một công ty nhà nước đã bịt kín lò phản ứng này bằng 200 m3 bê tông, chôn vùi nguồn chất độc hại chết người đó. Ngày nay cũng công ty này chịu trách nhiệm kiểm tra "quan tài bê tông" thường xuyên.
“Chúng tôi phái người tới đó ít nhất một lần mỗi tuần”, Volodymyr Kashtanov, phó giám đốc công ty, nói với phóng viên AFP, một phần tư thế kỷ sau thảm họa hạt nhân.
Nhiệm vụ của các chuyên gia là kiểm tra lớp vỏ bê tông và khoảng 200 tấn nhiên liệu hạt nhân bên trong nó. Ngay sau thảm họa nhiên liệu hạt nhân biến thành chất nhão có nồng độ phóng xạ cực cao trước khi cứng lại dưới dạng gốm.
Vài năm trước, quan tài bê tông suýt sụp đổ, nhưng từ đó tới nay nó đã được gia cố đáng kể. Giới chức Ukraina muốn thay thế nó bằng một lớp vỏ thép mới vào năm 2015. Quá trình xây dựng lớp vỏ thép đã được tiến hành từ năm ngoái.
Trước khi tiến vào quan tài bê tông, các chuyên gia mặc quần, áo và đeo găng tay. Tất cả những thứ đó đều được làm từ vải cotton. Họ cũng mặc trang phục bằng vải không thấm ở bên ngoài. Họ thở qua bình dưỡng khí và đeo các thiết bị đo phóng xạ. Thiết bị phát ra âm thanh báo động mỗi khi họ tiến vào khu vực có nồng độ phóng xạ cao hơn ngưỡng an toàn.
Những công cụ bảo hộ khác bao gồm: áo khoác và giày bao để xỏ bên ngoài giày thường bằng nhựa, tấm che ngực và găng tay bằng chì, xi lanh chứa oxy, để dự phòng khi bình khí oxy cạn.
“Thứ duy nhất mà chúng tôi không có là trang phục của phi hành gia”, Kashtanov đùa.
Để làm việc trong quan tài bê tông, các kỹ sư phải có giấy chứng nhận rằng họ không mắc bất kỳ căn bệnh nào. Sau khi được tuyển họ sẽ được đào tạo theo quy trình đặc biệt.
“Bạn cần phải biết lối đi an toàn trong quan tài bê tông”, Sergui Sverchkov, một thành viên trong nhóm kỹ sư, nói.
Phòng điều khiển lò phản ứng số 4. Ảnh:
Phòng điều khiển lò phản ứng số 4. Ảnh: markresnicoff.com.
Mỗi kỹ sư chui vào bên trong lớp áo quan khoảng 15 tới 20 phút. Khoảng thời gian “tuần tra” phụ thuộc vào nồng độ phóng xạ mà họ tiếp xúc.
“Những thợ hàn từng gia cố lớp bê tông làm việc theo ca, mỗi ca chỉ kéo dài trong 7 phút. Người đầu tiên hàn trong 7 phút rồi chạy ra ngoài và người tiếp theo thế chỗ của người thứ nhất”, Sverchkov kể.
Sverchkov mô tả cảnh mọi thứ bên trong quan tài bê tông đều bị hỏng và dây cáp buông thõng ở mọi nơi.
Các kỹ sư kiểm tra kết cấu bê tông, đo nồng độ phóng xạ trong không khí, xem xét các hệ thống điều khiển việc phân tán bụi và thoát nước nhiễm phóng xạ. Nước trong lò phản ứng hỏng tích tụ từ mưa, tuyết và quá trình ngưng tụ hơi nước.
Hơn 60% diện tích lò là vùng cấm xâm nhập do nồng độ phóng xạ quá cao hoặc lối vào bị chắn bởi các mảng đổ nát.
Các kỹ sư mới đây đã khoan các lỗ vào tường bao quanh các khu vực mà họ không thể xâm nhập để nhét các cảm biến phóng xạ và cảm biến nhiệt độ vào trong lỗ. Chúng giúp họ theo dõi tình hình bên trong những khu vực ấy.
Kashtanov mô tả tình hình bên trong lò phản ứng hỏng “tương đối ổn định”, song ông lo ngại một phản ứng hạt nhân dây chuyền có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ông cũng xác nhận lượng chất phóng xạ phát tán vào không khí và đất “tương đối lớn” song nồng độ phóng xạ không vượt quá mức cho phép.
Kỹ sư Sverchkov thừa nhận rằng anh luôn cảm thấy hồi hộp mỗi khi phải làm ca đêm trong lò phản ứng.
“Chúng tôi biết rõ về chất phóng xạ, nhưng mỗi khi đi một mình trong lò phản ứng vào ban đêm, bạn sẽ cảm thấy không thích thú chút nào. Một số khu vực không có ánh sáng và bạn phải bật đèn pin. Thỉnh thoảng chúng tôi nghe thấy những âm thanh giống như tiếng đập hay nứt”, anh nói.
Nhưng Igor Kabachenko, một kỹ sư khác, nói rằng anh đã học được cách chế ngự nỗi sợ hãi mỗi khi vào bên trong quan tài bê tông.
“Sau hai năm tìm hiểu quan tài này, nỗi sợ hãi của tôi đã nhường chỗ cho sự thích thú. Tôi nghĩ tôi không thể làm việc tại bất kỳ nơi nào khác nữa. Có vẻ như tôi đã yêu nơi này rồi”, anh nói.

Ám ảnh các công trình bỏ hoang của Liên Xô

Một số căn cứ quân sự, bệnh viện... bị bỏ hoang là những hình ảnh hoang lạnh, ám ảnh về các công trình vang bóng một thời của Liên Xô.

  1. Nhiếp ảnh gia Rebecca Litchfield đã đến nhiều địa điểm ở Latvia, Lithuania, Estonia, Đông Đức cũ, Hungary, Ba Lan, Slovakia và Cộng hòa Séc... để chụp ảnh những công trình từng được Liên Xô sử dụng nhưng sau này bị bỏ hoang. Bức ảnh chụp công trình bỏ hoang của Liên Xô bị bỏ hoang ở Buzludzha, Bulgaria.

  2. Ảnh chụp bên trong một chiếc tàu ngầm bỏ hoang của Liên Xô.

  3. Tàu hơi nước MAV 424 của Liên Xô nằm tại khu vực bỏ hoang ở Hungary.

  4. Đây là hình ảnh khu hội chợ Pripyat chưa bao giờ hoạt động bởi chưa kịp khai trương thì nơi này phải hứng chịu thảm họa Chernobyl năm 1986.

  5. Nơi đây từng là cơ quan đầu não của đảng cộng sản ở Buzludzha, Bulgaria.

  6. Khung cảnh bệnh viện bỏ hoang ám ảnh lòng người.

  7. Rạp chiếu phim cũ của Liên Xô giờ đây chỉ còn là một đống đổ nát. Tường nhà, cửa... bị đổ nát.

  8. Khung cảnh rùng rợn bên trong nhà tù Patarei ở Estonia.

  9. Căn cứ tên lửa quân sự bị bỏ hoang ở Slovakia toát lên vẻ u ám, hoang lạnh.


  10. Những thiết bị y tế, giường bệnh, chai lọ, cũi dành cho trẻ sơ sinh... bị bỏ lại ở bệnh viện Pripyat sau khi xảy ra thảm họa Chernobyl.

Những hình ảnh ám ảnh về thảm họa hạt nhân Chernobyl

Những Ngày 26-4 năm nay đánh dấu kỷ niệm 28 năm ngày xảy ra thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất thế giới khi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở thành phố Pripyat - Ukraine bị nổ.

Sự cố cháy nổ bắt nguồn từ lò phản ứng số 4 sau khi một thử nghiệm thất bại hôm 26-4-1986.
Thảm họa đã khiến một khu vực rộng lớn của Liên Xô bị bụi phóng xạ bao phủ. Nhiều khu vực khác tại châu Âu như Na Uy, Thụy Điển, Ý, Áo, Thụy Sĩ  cũng bị ảnh hưởng. Chính quyền Liên Xô khi đó đã ra lệnh sơ tán toàn bộ thành phố Pripyat trong nỗ lực khắc phục hậu quả thảm họa hạt nhân tồi tệ này. 
  
Lò phản ứng số 4 sau vụ nổ (ảnh chụp hồi tháng 5-1986). Ảnh: Reuters 
Lò phản ứng số 4 sau vụ nổ (ảnh chụp hồi tháng 5-1986). Ảnh: Reuters




Hoạt động khử độc nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Ảnh: RIA Novosti
Hoạt động khử xạ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Ảnh: RIA Novosti


Phương tiện quân sự hoạt động trong khu vực nhà máy cũng phải được khử xạ. Ảnh: RIA Novosti
Phương tiện quân sự hoạt động trong khu vực nhà máy cũng phải được khử xạ. Ảnh: RIA Novosti



Nhân viên tham gia hoạt động khắc phục hậu quả. Ảnh: RIA Novosti
Nhân viên tham gia hoạt động khắc phục hậu quả. Ảnh: RIA Novosti


Sau khi lệnh sơ tán toàn bộ thành phố Pripyat được đưa ra, khoảng 50.000 người dân đã rời khỏi đó trong vòng 3 giờ. Chính họ cũng không biết rằng mình có thể không bao giờ trở lại quê nhà.
Trong khi lò phản ứng số 4 đã bị hư hỏng không thể sửa chữa thì những khu vực khác của nhà máy vẫn hoạt động bình thường không lâu sau vụ nổ. Lò phản ứng số 1, 2 và 3 đã được khởi động lại từ giữa tháng 10-1986 đến tháng 12-1987. Chernobyl vẫn tiếp tục sản xuất điện hạt nhân cho đến tháng 12-2000 .
Thảm họa đã để lại nhiều hậu quả thảm khốc cho sức khỏe người dân và khiến Pripyat giờ đây không khác gì một thành phố "ma". 

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Thảm họa Chernobyl - 20 năm nhìn lại

Thảm họa Chernobyl - 20 năm nhìn lại

Vào lúc 1 giờ 23 phút ngày 26 tháng 4 năm 1986 tại Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, thuộc nước Cộng hoà Ukraina của Liên Xô cũ, đã xảy ra tai nạn có một không hai trong lịch sử ngành năng lượng nguyên tử thế giới.
Tiến sỹ El Baradei, Giám đốc Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA), gọi đây là “một thảm hoạ nhưng là một bước ngoặt quan trọng đối với IAEA”. Nó làm lay chuyển niềm tin của cả thế giới vào sự an toàn của năng lượng nguyên tử, nguồn năng lượng sạch khổng lồ mà nhân loại hy vọng rằng nhờ đó loài người chẳng bao giờ còn phải lo lắng về sự thiếu hụt năng lượng nữa.
Chernobyl
Vùng ảnh hưởng của thảm họa chernobyl, những vạch ngang là nơi bị ô nhiễm phóng xạ cao. (ki4u.com)
Trước năm 1986 ít người bình thường nghĩ rằng có thể xảy ra sự cố điện hạt nhân. Người ta tin vào khoa học, tin vào sự lắm chữ nghĩa và tinh thần trách nhiệm hoàn hảo của các chuyên gia ngành khoa học cao siêu này. Nhưng ngày nay Chernobyl đã thành một từ cửa miệng. Báo chí viết về nó nhiều và mâu thuẫn, tạo ra một áp lực tâm lý nặng nề lên dân cư từng sống gần nơi tai nạn, lên cư dân sống ở các nước khác có nhà máy điện hạt nhân, và cả lên những nhà hoạch định chính sách năng lượng của các quốc gia. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi năm 2004, 18 năm sau vụ tai nạn, Liên hợp quốc phải tổ chức một hội thảo quốc tế với sự tham gia của IAEA và tất cả các cơ quan có liên quan thuộc tổ chức này, cùng các nước Nga, Ukraina, Belarus để sàng lọc tất cả các tin tức, phân biệt đúng sai, đưa ra một tổng kết trình lên Đại hội đồng. Diễn đàn quốc tế này đã "cung cấp các tin tức trung thực có trách nhiệm về tình hình thực tế hậu Chernobyl", tức là để người ta phân biệt được những tin tức bịa đặt mà trong thời bùng nổ thông tin ngày nay thì nhiều như nấm sau mưa. Nhưng thật ra, ngay trong giới các nhà chuyên môn, sự đánh giá về phạm vi ảnh hưởng và mức độ tai hại của thảm hoạ này cũng còn rất khác nhau.
Tai nạn đã diễn ra như thế nào?
Trình bày, dù thật sơ lược, diễn biến và nguyên nhân của tai nạn Chernobyl là khó viết và hơn nữa cũng khó đọc. Nó liên quan đến nhiều khái niệm và thuật ngữ không nhiều người biết. Nôm na thì thế này. Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl trang bị loại lò phản ứng được thiết kế đầu tiên ở Liên Xô, trên cơ sở phát triển các lò chế tạo plutoni dùng cho mục đích quân sự trước đây. Thiết kế của loại lò này tiềm ẩn một số nguy hiểm. Có một cách so sánh dễ hiểu. Viên bi nằm dưới đáy một hố sâu được gọi là ở trạng thái cân bằng bền, vì nếu có tác động nào gây ra sự dịch chuyển thì nó sẽ tự lăn về vị trí cũ. Các lò phản ứng hạt nhân ở các nước phương tây được thiết kế sao cho sự điều chỉnh về trạng thái an toàn có thể tự diễn biến, giống như viên bi tự lăn được về đáy hố sâu vậy, nếu có tác động nào làm cho nó bị dịch chuyển khỏi trạng thái đó. Nguyên lý thiết kế đó tạo ra yếu tố an toàn nội tại của lò phản ứng. Ngay từ đầu những năm 70, nhiều nhà chuyên môn đã chỉ ra rằng loại lò phản ứng đặt ở Chernobyl không có yếu tố quan trọng đó. Nhưng Quy phạm An toàn hạt nhân ở Liên Xô cũ không đảm bảo được rằng các lò phản ứng được xây dựng buộc phải có yếu tố an toàn nội tại, phải ổn định ở các vùng công suất khác nhau, phải tôn trọng nguyên tắc "phòng ngự chiều sâu" để đề phòng tai nạn.
Điều tệ hại nhất là ở Chernobyl không có hệ thống nhà lò bảo vệ (containment), yếu tố quyết định của chiến lược "phòng ngự chiều sâu", để khi lò phản ứng bị vỡ, chất phóng xạ bị giam giữ trong đó mà không thoát ra ngoài.
Nhưng các sai lầm thiết kế cũng chỉ đóng vai trò nguy cơ tiềm ẩn mà thôi. Chính thói quen coi thường pháp luật của con người mới biến được các nguy cơ ấy thành hiện thực. Sau thảm hoạ Chernobyl, thuật ngữ "văn hoá an toàn" (safety culture) đã ra đời và sự xây dựng nền văn hoá ấy được IAEA coi là công việc đặc biệt quan trọng của các quốc gia đã có hoặc sẽ có điện hạt nhân.
Lúc bấy giờ, người ta muốn làm một thí nghiệm khi lò chạy ở mức công suất rất thấp (so với công suất danh định). Vì lò hoạt động không ổn định ở vùng công suất thấp, hệ thống dập tắt lò tự động sẽ hoạt động để tránh sự cố. Để có thể tiến hành thí nghiệm người ta đã đưa ra quyết định liều lĩnh chết người, không kể gì đến văn hoá an toàn, là khoá hệ thống tín hiệu dập lò tự động. Chính vì thế, khi công suất lò tăng nhanh, do tính không ổn định ở vùng công suất thấp, đã không thể đưa được lò về trạng thái an toàn. Công suất tăng nhanh đến mức nước là chất tải nhiệt không đủ sức làm nguội mà bốc hơi dữ dội. Một vụ nổ hơi lớn phá vỡ mái vòm nặng khoảng 1000 tấn của lò phản ứng và một phần gian nhà lò. Ở nhiệt độ cao hơi nước phân huỷ hoặc bị khử ôxi tạo thành khí hyđrô. Vì không có nhà lò bảo vệ lò phản ứng, hàng rào bảo vệ cực kỳ quan trọng của lò phản ứng hạt nhân, không khí từ ngoài tràn vào gây ra vụ nổ hyđrô và đốt cháy hàng nghìn tấn chất làm chậm graphit trong suốt 10 ngày đêm kinh hoàng, nhiệt độ lên tới 2000oC . Không phải là nổ hạt nhân, thuần tuý chỉ là nổ hơi, nổ hoá học thôi, nhưng không có nhà lò bảo vệ, lượng phóng xạ gấp khoảng từ 100 đến 400 lần của quả bom nguyên tử mà người Mỹ thả xuống Hirosima, được vụ nổ hoá học và sự cháy graphit tung lên cao hàng nghìn mét. Đám mây bụi tử thần này được gió mang đi, về phía Bắc xa tới 500km, để lại hậu quả đến tận giờ.
Có bao nhiêu người chết trong thảm hoạ Chernobyl?
Chỉ có 31 người chết, theo số liệu của Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA). Số người chết không khác nhiều so với một vụ đổ xe, nhưng hậu quả khủng khiếp của thảm hoạ nằm ở chỗ khác. Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl tuy mang tên của thị trấn nhỏ 12 500 dân này nhưng còn cách xa nó 15km. Cận kề với Nhà máy, chỉ 3km, là thị trấn Pripyat nơi có dòng sông Pripyat hiền lành chảy qua để đổ vào hồ chứa nước Kiev. Toàn bộ 49.360 dân cư của thị trấn xinh đẹp và bất hạnh ấy phải hấp tấp rời bỏ nhà cửa, tài sản của họ trong vòng 36 giờ sau tai nạn. Trong khoảng một vài tháng sau, thêm 67.000 người phải chuyển về chỗ ở mới theo sắp xếp của chính phủ, nâng số cư dân buộc phải ra đi lên 116.360. Nếu kể cả những người tự rời bỏ các vùng lân cận do sợ hãi ảnh hưởng của chất phóng xạ, người ta ước đoán rằng tổng số người ly hương có thể tới khoảng 200.000.
Cũng chưa hết. Cho đến năm 2004 người ta thống kê được ít nhất 1.800 trường hợp trẻ em, ở độ tuổi từ 0 đến 14 lúc tai nạn xảy ra, bị ung thư tuyến giáp trạng. Một tỷ lệ cao hơn đáng kể so với bình thường, vì tuyến giáp của trẻ em dễ nhiễm iôt phóng xạ, tác nhân kích thích ung thư. May sao chưa phát hiện được sự tăng các dạng ung thư khác, ngay cả ở đội ngũ những người làm công việc giải quyết hậu quả của tai nạn.
Vùng nhiễm xạ rộng bao nhiêu?
Có tài liệu cho rằng chỉ khoảng 18.000 km2 đất canh tác bị nhiễm xạ, không được phép canh tác và chừng 35.000 km2 rừng bị ảnh hưởng của chất phóng xạ. Nhưng nhiều chuyên gia và tổ chức bảo vệ môi trường lại khẳng định rằng phải tới 150.000km2 ở Belarus, Nga và Ukraina, tức là gần bằng nửa diện tích nước ta, bị nhiễm xạ. Vùng đất nằm trong khoảng cách 30km từ Nhà máy, tính ra khoảng 3 lần diện tích Thủ đô Hà Nội, được coi là vùng cấm. Nhiều đột biến đối với động thực vật đã xảy ra sau tai nạn. Lá một số cây thay hình và nhiều động vật sinh ra bị dị dạng.
Người ta giải quyết hậu quả của tai nạn như thế nào?
Không có con số chính xác về lực lượng tham gia giải quyết hậu quả tai nạn. Nước Nga đưa ra danh sách gần 400.000 người tham gia công việc khó khăn này cùng với gần 600.000 người liên quan tới các hoạt động đó. Họ tháo dỡ các khu đổ nát, xây dựng các kho giữ chất thải, đập chắn, hệ thống lọc nước, làm sạch khu vực nhà máy và vùng phụ cận... Bằng “phương pháp cánh tay dài” người ta xây ngôi mộ khổng lồ, chôn cất toàn bộ lò phản ứng số 4 để ngăn không cho chất phóng xạ tiếp tục phát tán ra ngoài. Nhưng ngày nay khối bê tông khổng lồ này lại đã rạn nứt, đòi hỏi được xử lý nhằm tránh rò rỉ phóng xạ và cả những biến cố khác. Nấm mồ phóng xạ đắp vội vàng khi xảy ra tai nạn khác rất xa các chuẩn mực về chôn cất nhiên liệu đã cháy. Các thanh nhiên liệu sau sử dụng, nếu không đưa vào tái chế, phải chôn giữ trong các kho thải nằm sâu chừng dăm trăm mét dưới lòng đất, tại những nơi có cấu trúc địa tầng, điều kiện địa chất - thuỷ văn phù hợp, cùng với nhiều hàng rào bảo vệ có độ bền vững vài vạn năm.
Việc sử dụng vùng đất bị nhiễm xạ để canh tác đã đòi hỏi nhiều hỗ trợ quốc tế. Các nhà khoa học của các nước tiên tiến tập trung vào phương hướng trồng các loại cây có nhiều khả năng tập trung chất phóng xạ vào thân, cành, lá, vỏ, nhưng hạt không chứa chất phóng xạ vì vậy vẫn có giá trị kinh tế. Chẳng hạn Tổ chức Lương nông thế giới (FAO) đã cung cấp kỹ thuật tách cesi ra khỏi sữa và thịt. FAO cũng giúp Belarus chọn phương án trồng cây cải dầu trên đất nhiễm xạ. Chất phóng xạ tập trung vào thân và vỏ hạt của loài cây này, không có trong hạt, vì thế dầu hạt cải vẫn có thể dùng làm thực phẩm.
Nhưng chẳng có gì chữa chạy được nỗi đau ly hương của hàng chục vạn người đã buộc phải rời bỏ xóm làng thân thuộc. Cũng chẳng ai trấn an được hàng triệu người, đã sống trong vùng tai nạn hoặc đã tham gia khắc phục hậu quả, luôn khắc khoải về một ngày bất hạnh nào đó bệnh tật sẽ phát tác trên cơ thể họ hoặc con cháu họ. Có người tự sát vì tuyệt vọng. Nhiều cặp vợ chồng không dám sinh con vì sợ đứa trẻ ra đời dị dạng. Còn niềm tin của nhân loại vào năng lượng hạt nhân thì chắc còn lâu mới khôi phục được.
Chernobyl giờ ra sao?
Chernobyl
Quang cảnh nhà máy điện hạt nhân sau thảm họa, năm 1986. (chemcases)
Khi thảm hoạ xảy ra, trong lò phản ứng số 4 có 200 tấn nhiên liệu urani. Người ta đánh giá rất khác nhau về lượng urani thoát ra khi xẩy ra thảm hoạ. Các nhà đương cục Ukraina quả quyết rằng, các nghiên cứu suốt 15 năm của họ cho thấy 95% nhiên liệu urani vẫn ở lại trong lò phản ứng sau vụ nổ. Nhiều người khác ước đoán lượng nhiên liệu thoát ra nằm trong khoảng 3-20%. Nhưng năm 2002, hai nhà vật lý có tên tuổi, Konstantin Checherov của Viện Kurchatov ở Maxcơva và Sebastian Pflugbeil, Giám đốc Cơ quan Bảo vệ phóng xạ Berlin lại công bố trên Đài Truyền hình Quốc gia Đức (ZDF) rằng, hầu hết nhiên liệu đã thoát ra khỏi lò phản ứng, phần còn nằm lại là không đáng kể.
Dù đánh giá thế nào thì hơn 100 nguyên tố phóng xạ đã được tung vào khí quyển với số lượng vào khoảng 1 phần trăm đến 1 phần nghìn lượng bụi phóng xạ mà các cuộc thử vũ khí hạt nhân trong các thập kỷ 60 và 70 tạo ra. Phần lớn các nguyên tố này có đời sống ngắn và nhanh chóng biến mất. Nhưng stronti 90, cesi 137 có thời gian bán huỷ 29 năm và 30 năm, tức là sau 29, 30 năm độ phóng xạ của chúng mới chỉ giảm đi một nửa, vẫn còn nguy hiểm đến bây giờ và nhiều thập kỷ sau đây nữa. Nhưng ngày nay, bất chấp mức phóng xạ còn cao, nhiều loài động vật hiếm đã trở về vùng cấm với số lượng lớn như hải ly, nai sừng tấm, lợn rừng , chó sói, thú dữ ăn thịt và rất nhiều giống chim muông. Những con đập do các gia đình hải ly dựng lên làm cho mực nước dâng cao, mở rộng các đầm hồ, làm phong phú cuộc sống thuỷ sinh. Rừng lấn các đồng cỏ và làng mạc cũ. Một số cư dân, nhất là những người già, không chịu nổi nỗi đau ly hương, nhớ thương những kỷ niệm của mình, đã tự ý quay về vùng cấm. Nhưng không có trường học dành cho trẻ em ở vùng này để tránh ảnh hưởng của chất phóng xạ đối với người trẻ tuổi. Khách tham quan cũng đã được phép vào thăm nơi xảy ra tai nạn.
Lời cuối
Để đáp ứng nhu cầu điện năng tăng lên nhanh chóng trong quá trình công nghiệp hoá, trong điều kiện của nước ta, điện hạt nhân có lẽ sẽ được lựa chọn như một tất yếu. Tuy nhiên, công nghệ sản xuất điện khá kinh tế và ít phát thải khí nhà kính này cũng làm nhiều người sợ. Có chỗ do thiếu thông tin và kiến thức, nhưng nhiều chỗ có lý. Các chuyên gia hạt nhân thì khẳng định rằng kỹ thuật đã tiến bộ nhiều lắm so với vài chục năm trước đây, rằng thiết kế của các lò phản ứng ngày nay đảm bảo yếu tố an toàn nội tại, rằng vì thế không bao giờ có thể có lại một Chernobyl nữa. Nhiều người tin và chắc ai cũng mong rằng điều đó là xác đáng.
Một số nhà khoa học khác lại "khôn ngoan" tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách rằng nên sử dụng chiến thuật "chờ xem sao", mà nội dung cơ bản của nó là chưa đưa ra kết luận gì cụ thể về lựa chọn các nguồn năng lượng của tương lai, đẩy càng xa càng tốt cái ngày phải nghĩ đến điện hạt nhân, chờ đợi sự ra đời của các thế hệ lò phản ứng mới với những tiến bộ kỹ thuật mới. Lý lẽ cũng thật thuyết phục.
Nhưng nguyên nhân chủ yếu của thảm hoạ năm 1986 dường như không phải là trình độ yếu kém của công nghệ hạt nhân lúc bấy giờ mà ở luật lệ và con người. Người ta cho rằng một nhà nước pháp quyền mạnh cần có ba yếu tố: Pháp luật phải được khẳng định về lý luận và minh chứng bằng thực tế là tối thượng; Pháp luật phải được xây dựng hoàn hảo, tức là phải đầy đủ, chính xác, khả thi, không mâu thuẫn và tường minh; Và dân chúng có thói quen chấp hành pháp luật. Chernobyl xảy ra vì quy phạm an toàn lỏng lẻo tạo điều kiện cho những thiết kế kém an toàn được phép xây dựng, còn người vận hành thì coi thường luật lệ, tức là thiếu ít nhất hai trong ba yếu tố trên. Cũng cần nói thêm rằng, năm 1983, tức là chỉ trước thảm hoạ Chernobyl có 3 năm, một sự cố tương tự, tại một lò phản ứng cùng loại với lò phản ứng ở Chernobyl, đã xảy ra ở Lituania, may mà hậu quả không lớn lắm. Tiếc rằng những người có trách nhiệm đã không để tâm đến sự cảnh báo này. Vì thế, xây dựng nhà nước pháp quyền mạnh chính là tạo ra tầng bảo vệ quyết định ngăn chặn các sự cố như chernobyl, không chỉ riêng cho ngành hạt nhân mà thôi.

Di chứng Chernobyl - Tổn thương và tranh cãi

Di chứng Chernobyl - Tổn thương và tranh cãi
Đã 25 năm trôi qua kể từ sau thảm họa Chernobyl, những di chứng của nó vẫn còn hiển hiện trong cuộc sống của rất nhiều người, và trong cả những tranh cãi.
Thảm họa Chernobyl - 20 năm nhìn lại
Volodymyr Palkin mất ít nhất hai tháng mỗi năm tại một bệnh viện ở thủ đô Kiev, Ukraina. Ông là một trong số hàng trăm nghìn nhân viên cứu hộ được điều tới nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, để tham gia công tác khắc phục sau thảm họa ngày 26/4/1986.
Khoảng 600.000 người từ Belarus, Nga và Ukraine được đưa tới Chernobyl trong những năm sau thảm họa với vai trò của những "cảm tử quân". Họ phải làm việc trong điều kiện nguy hiểm để thu dọn các mảnh vụn nhiễm xạ sau vụ nổ tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl.
Giống như nhiều người khác, cuộc đời Palkin đã thay đổi hoàn toàn sau cái ngày định mệnh ấy. Sức khỏe của ông suy giảm do điều kiện làm việc độc hại và những di chứng vẫn còn dù một phần tư thế kỷ đã trôi qua.
Ông Palkin
Ông Palkin cầm trên tay bức ảnh của chính ông, được chụp tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl 25 năm trước. 
Ông Palkin nay 69 tuổi. Ngồi trên chiếc giường trong bệnh viện mà ông đã coi là ngôi nhà thứ hai, Palkin lần giở lại những tấm ảnh của các đồng nghiệp cũ, những người nằm trong số 30 người bị xác định là thiệt mạng trong những tuần đầu tiên sau thảm họa.
Palkin nhận được lệnh tới Chernobyl làm việc đúng vào ngày xảy ra thảm họa, và vài tuần sau đó phải nhập viện vì bị xuất huyết ở cổ họng và ruột. Palkin kể rằng ông đã được các nhà chức trách yêu cầu ký xác nhận mức độ phơi nhiễm phóng xạ chỉ bằng một nửa so với thực tế.
"Tôi từng là một người hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng giờ thì ngay cả việc đi lại cũng là một việc làm khó khăn. Tôi gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng ở tuyến giáp còn răng thì cứ ngày một rụng dần", Palkin thều thào nói.
Ông lão già yếu cũng không quên phàn nàn về đồng lương hưu còm cõi khoảng 202 USD/tháng, mà phần lớn được chi ra để mua thuốc. Là một "cảm tử quân có giấy chứng nhận", Palkin hàng tháng còn nhận được khoảng 38 USD tiền ăn và 50% chiết khấu trong các hóa đơn sinh hoạt.
Ở cùng phòng bệnh với Palkin là ông lão 70 tuổi Volodymyr Zabolotny, cũng là một "cảm tử quân" tại Chernobyl năm nào. Tuy nhiên, khác với Palkin, Zabolotny lại cho rằng những vấn đề sức khỏe mà ông đang gặp phải phần nhiều do tuổi tác chứ không vì điều kiện làm việc độc hại ở Chernobyl.
Khi chính những "cảm tử quân" còn có cách nhìn nhận khác nhau về tổn thương sức khỏe sau thảm họa, cũng không có gì lạ nếu các tổ chức tranh cãi về vấn đề này.
Nhiều tổ chức trong đó có Hòa bình xanh đã cho rằng, khoảng 100.000 ca ung thư dẫn tới tử vong có liên hệ trực tiếp với thảm họa Chernobyl. Rất nhiều trong số này là những "cảm tử quân" như các ông Palkin và Zabolotny.
Tuy nhiên, Ủy ban khoa học Liên Hợp Quốc về phóng xạ nguyên tử (UNSCEAR) lại không đồng ý với nhận định trên. Trong bản báo cáo mới nhất hồi tháng hai, tổ chức này ước tính chỉ có hơn chục người thiệt mạng có liên quan trực tiếp tới thảm họa Chernobyl, chứ không phải là vài nghìn người.
Một bức không ảnh chụp nhà máy điện hạt nhân Chernobyl sau khi thảm họa xảy ra. Ảnh:
Một bức không ảnh chụp nhà máy điện hạt nhân Chernobyl sau khi thảm họa xảy ra. Ảnh: Chnpp
Hai công nhân nhà máy điện hạt nhân Chernobyl đã chết trong vụ nổ tại đây. Một thời gian ngắn sau đó, 28 nhân viên cứu hộ và cứu hỏa thiệt mạng vì nhiễm phóng xạ. Bản báo cáo của UNSCEAR cho rằng chỉ có thêm 19 người sống sót sau khi nhiễm xạ qua đời kể từ đó tới năm 2006, nhưng vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau chứ không phải chỉ vì bị phơi nhiễm phóng xạ.
Cũng theo UNSCEAR, tác động chủ yếu đối với sức khỏe của phần lớn cư dân tại vùng thảm họa là 6.000 ca ung thư tuyến giáp, được lý giải là do trẻ em uống phải sữa bị nhiễm xạ vào thời gian đó. Cho tới năm 2005, chỉ 15 em trong số này được xác nhận đã tử vong. Ung thư tuyến giáp có thể điều trị được.
"Đối với các 'cảm tử quân', ngoại trừ việc tác động của bệnh bạch cầu và bệnh đục thủy tinh thể có tăng ở những người phải điều trị lâu dài, không có bằng chứng nào cho thấy các vấn đề sức khỏe của họ có liên quan tới việc phơi nhiễm phóng xạ", bản báo cáo của UNSCEAR có đoạn.
Một số chuyên gia cho rằng di chứng tồi tệ nhất của thảm họa Chernobyl không phải là ở sức khỏe mà là trong tinh thần, đặc biệt là những người bị tác động mạnh bởi những ký ức về ngày 26/4/1986. Di chứng tinh thần ấy thống trị mọi cảm giác của họ, khiến họ nghĩ rằng mình là nạn nhân của một thảm họa hạt nhân.
Tất nhiên, những nhận định như vậy chẳng khác nào làm kích hoạt nỗi bức xúc dồn nén lâu ngày ở Ukraina. Các nhóm cựu "cảm tử quân" ở nước này từ lâu đã cho rằng những vấn đề sức khỏe của họ là do ảnh hưởng của thảm họa Chernobyl. Những người này đồng thời chỉ trích gay gắt giới chức hậu Xô viết vì những khoản bồi thường không tương xứng.
Những tranh cãi về tác động thực sự của thảm họa Chernobyl đối với sức khỏe con người vẫn chưa có hồi kết. Người ta đành phải chờ câu trả lời cuối cùng của thời gian.